Thứ Sáu, 16 tháng 9, 2016

Bản tin số 27 - T.09.2016

BẢN TIN ULTREYA
SỐ 27 - T.09/2016
Mời xem và download tại đường link:


LỜI NGỎ:


Kính thưa quý cha, quý tu sĩ linh hướng, và quý anh chị cursillista rất quý mến,
Bản tin số 27, tháng 09/2016 phát hành trong dịp mừng Lễ Suy Tôn Thánh Giá, ngày sinh hoạt truyền thống của Phong trào Cursillo Xuân Lộc. Lễ mừng năm nay lại càng ý nghĩa hơn vì trong bầu khí hân hoan của Năm Thánh Lòng Thương Xót, anh chị em đón nhận và chia sẻ ân sủng từ Lòng Thương Xót của Thiên Chúa, và cùng nhau có những quyết tâm: tôn vinh Lòng Thương Xót của Thiên Chúa bằng đời sống hoán cải và canh tân, thực thi lời mời gọi của Chúa và các vị chủ chăn, đó cũng chính là tinh thần Đặc Sủng PT Cursillo, mời gọi cursillistas đến với những anh chị em đau yếu bệnh tật, những người nghèo khó, neo đơn, những anh chị em vì hoàn cảnh còn sống xa cách Chúa và Giáo Hội của Người, đang rất cần đến Lòng Thương Xót của Thiên Chúa, để chia sẻ, đỡ nâng và trợ giúp trong tinh thần: Tìm Bạn, Kết Bạn và Đem Bạn về với Chúa.
Nét chính trong huy hiệu của PT Cursillo chính là Thánh Giá Chúa Kitô. Là cursillistas, người môn đệ theo Chúa, chúng ta được mời gọi tôn vinh Thánh Giá Chúa, không phải bằng nghi lễ, nhưng bằng chính đời sống chứng nhân nơi môi trường Chúa đặt để chúng ta.
Với tâm tình và ý nghĩa đó, ước mong anh chị em cursillistas cùng cầu nguyện và chung lòng góp sức trong KHMV 2016-2017 của PTXL, hướng đến kỷ niệm 50 năm PT Cursillo hiện diện tại XL-VN (1967-2017), cùng sống và chia sẻ, học hỏi Đặc Sủng Cursillo, góp phần xây dựng Giáo Hội và Xã Hội hôm nay.
Anh chị em chúng ta hãy cùng nhau tiến lên. De Colores! Ultreya!
BPV PT Cursillo Xuân Lộc

Thứ Năm, 8 tháng 9, 2016

Giáo lý Năm Thánh LTX (tt): Chúa Giêsu là khí cụ LTX của Thiên Chúa


Đi sâu vào mầu nhiệm nhân từ của Chúa Giêsu

"Chúng ta hãy dấn thân, đừng đưa ra một trở ngại nào đề kháng lại lòng thương xót của Cha"

Triều kiến chung ngày 07/9/2016
"Đi sâu bào mầu nhiệm nhân từ của Chúa Giêsu, để nắm bắt lấy lòng nhân từ và thương xót của Người", đó là điều Đức Giáo Hoàng Phanxicô đề nghị trong Bài giáo lý ngài ban bằng tiếng Ý trong buổi triều kiến chung hôm thứ Tư 07/9/2016, trên quảng trường Thánh Phêrô.
Đức Giáo Hoàng mời gọi hãy dẹp bỏ những chướng ngại vật ngăn trở sự tiếp nhận lòng thương xót đó: "Chúng ta, các Kitô hữu, chúng ta tin Thiên Chúa của Đức Giêsu Kitô và ước muốn của chúng ta là được lớn lên trong kinh nghiệm sống động mầu nhiệm tình yêu của Người. Chúng ta hãy dấn thân đừng đưa ra một trở ngại nào đề kháng lại lòng thương xót của Cha, mà hãy cầu xin ơn có một đức tin to lớn để chúng ta cũng trở thành những dấu hiệu và khí cụ của lòng thương xót".
Sau đây là bản dịch đầy đủ Bài giáo lý của Đức Giáo Hoàng Phanxicô về lòng thương xót.
AB
Chính lòng thương xót cứu độ (x. Mt 11, 2-6)
Thân chào quý anh chị em!
Chúng ta đã nghe một đoạn Tin Mừng thánh Mátthêu (11, 2-6). Chủ ý của thánh sử gia là đưa chúng ta đi sâu vào trong mầu nhiệm của Chúa Giêsu, để nắm bắt lấy lòng nhân từ và thương xót của Người. Đoạn đó như sau; Ông Gioan Tẩy Giả sai các môn đệ mình đến với Chúa Giêsu – ông Gioan lúc đó ngang ngồi tù - để đặt một câu hỏi rất minh bạch: "Thầy có phải là Đấng phải đến không, hay là chúng tôi còn phải đợi ai khác?" (c. 3) Đó đúng là môt lúc tối tăm… ông Gioan Tẩy Giả đã lo âu đợi chờ Đấng Mêsia và, trong rao giảng của ông, ông đã vẽ ra một chân dung mãnh liệt, như một vị quan tòa sẽ cuối cùng thiết lập Nước Thiên Chúa và thanh tẩy dân Người, khen thưởng người lành, trừng phạt kẻ dữ. Ông đã giảng như thế này: "Cái rìu đã đặt sát gốc cây: bất cứ cây nào không sinh quả tốt, đều bị chặt đi và quăng vào lửa" (Mt 3, 10). Bây giờ lại thấy Chúa Giêsu bắt đầu sứ vụ công khai của Người với một phong cách khác hẳn, ông Gioan cảm thấy đau buồn bởi vì ông ở trong tình trạng hai lần đen tối: cái đen tối của phòng giam, nhà tù, và cái đen tối trong tâm khảm. Ông không hiểu cái phong cách đó của Chúa Giêsu và muốn biết có phải thật Người là Đấng Mêsia hay ông còn phải chờ ai khác.
Và câu trả lời của Chúa Giêsu dường như, lúc mới nghe, không đáp ứng câu hỏi của ông Gioan Tẩy Giả. Chúa Giêsu quả đã phán "Các anh cứ về thuật lại với ông Gioan những điều mắt thấy, tai nghe: người mù xem thấy, kẻ què được đi, người cùi được sạch, kẻ điếc được nghe, kẻ chết sống lại, kẻ nghèo được nghe Tin Mừng. Phúc thay người nào không vấp ngã vì tôi!" (c. 4-6). Cầu này, chủ ý của Chúa Giêsu đã rõ ràng; Người trả lời rằng: Người là khí cụ cụ thể của lòng thương xót của Thiên Chúa. Người mù, người què, người cùi, người điếc tìm thấy lại phẩm giá của mình và đã không còn bị loại bỏ vì bệnh tật của mình, người chết hồi sinh trong lúc Tin Mừng được loan báo cho người nghèo. Và điều này trở thành sự tổng hợp hành động của Chúa Giêsu, như thế khiến cho hành động của chính Thiên Chúa được hiển thị và sờ mó được.

Lễ phong Thánh cho Mẹ Têrêsa Calcutta - 04.09.2016


Lễ phong thánh: Tình yêu nhưng không và tự do của
thánh Têrêxa thành Calcutta


Toàn văn bài giảng huấn của Đức Giáo Hoàng Phanxicô

Lễ phong thánh Mẹ Têrêxa thành Calcutta 04/9/2016
"Lòng Thương Xót đối với Mẹ là "muối" mang đến mùi vị cho mỗi công trình của Mẹ, và "ánh sáng" chiếu rọi những tối tăm của những ai không còn cả lấy nước mắt để khóc cho sự khó nghèo và đau khổ của mình", Đức Giáo Hoàng Phanxicô giải thích trong bài giảng lễ tuyên phong hiển thánh cho Mẹ Têrêxa thành Calcutta, ngày Chúa Nhật 04/9/2016 này, trên quảng trường Thánh Phêrô, trước hàng trăm ngàn người. Ngài đã nhấn mạnh đến sự tự do.
Đức Giáo Hoàng đã nhấn mạnh đến "những vùng ngoại vi" được thăm viếng và nâng đỡ bởi Mẹ Têrêxa, như một sự viếng thăm của Thiên Chúa: "Sứ mạng của Mẹ trong các vùng ngoại vi các thành phố và trong những vùng ngoại vi của cuộc sống kéo dài ở thời đại chúng ta như một sự làm chứng hùng hồn cho sự gần gũi của Thiên Chúa với những người nghèo khó giữa những người khó nghèo".
Ngài đã gửi gấm tấm gương tự do cho những ai đã dấn thân trong công tác thiện nguyện bên cạnh người nghèo và những người bệnh hoạn: "Hôm nay, tôi đặt hình ảnh biểu tượng của người phụ nữ này và của người thánh hiến trong thế giới thiện nguyện: mong rằng Mẹ là gương thánh thiện cho chúng ta!  Mong rằng người thợ xây dựng lòng thương xót này luôn giúp cho chúng ta ngày càng hiểu hơn rằng tiêu chuẩn hành động duy nhất của chúng ta là tình yêu nhưng không, tự do đối với mọi chủ thuyết và mọi ràng buộc và cống hiến cho tất cả mọi người không phân biệt tiếng nói, văn hóa, chủng tộc hay tôn giáo".
Sau đây là bản dịch chính thức của Tòa Thánh toàn văn bài giảng bằng tiếng Ý của Đức Giáo Hoàng Phanxicô
AB
Bài giảng của Đức Giáo Hoàng Phanxicô
"Nào có ai biết được ý định của Thiên Chúa?" (Kn 9, 13). Câu hỏi này trong sách Khôn Ngoan, chúng ta vừa nghe trong bài đọc I, cho chúng ta  thấy cuộc đời chúng ta như một mầu nhiệm, mà chìa khóa diễn giải không thuộc về chúng ta. Luôn có hai tác nhân chính trong lịch sử: một đàng là Thiên Chúa, một đàng là chúng ta. Chúng ta có bổn phận nhận ra lời gọi của Thiên Chúa và, rồi sau đó, đón nhận thánh ý Người. Nhưng để đón nhận thánh ý Người mà không do dự, chúng ta có tự hỏi: thánh ý của Thiên Chúa là thế nào? Trong cùng một đoạn của Sách Khôn Ngoan, chúng ta thấy được câu trả lời: "Chính vì thế mà con người được dạy cho biết những điều đẹp lòng Người" (c. 18). Để chứng thực lời gọi của Thiên Chúa, chúng ta phải tự hỏi và hiểu được cái gì làm đẹp lòng Người. Quá nhiều khi, các ngôn sứ loan báo điều làm đẹp lòng Chúa. Thông điệp của các ngài tìm thấy một sự tổng hợp đáng ca ngợi trong câu: "Vì Ta muốn tình yêu chứ không cần hy lễ" (Hs 6, 6; Mt 9, 13). Mọi công trình thương xót đều làm đẹp lòng Thiên Chúa, bởi vì trong người anh em mà chúng ta giúp đỡ, chúng ta nhận ra chân dung của Thiên Chúa mà không ai có thể thấy được (x. Ga 1, 18). 

Thứ Bảy, 3 tháng 9, 2016

Mẹ Têrêsa Calcutta, chứng nhân lòng thương xót


Mẹ Têrêsa Calcutta, chứng nhân lòng thương xót
Ngày 4-9-2016 tới đây, Đức Giáo hoàng Phanxicô sẽ chủ sự nghi thức tuyên phong hiển thánh cho Chân phước nữ tu Têrêxa Calcutta, được cả thế giới quen gọi là Mẹ Têrêxa Calcutta. Trong khung cảnh Năm Thánh Lòng Thương Xót, việc tuyên thánh này làm nổi bật khuôn mặt Mẹ Têrêxa như chứng nhân của lòng thương xót. Chắc chắn có nhiều điều để nói về cuộc đời cũng như những công việc của lòng thương xót mà Mẹ Têrêxa đã thực hiện, riêng bài viết này chỉ muốn tập trung vào diễn văn của Mẹ Têrêxa khi lãnh giải Nobel Hoà Bình ngày 10 tháng 12 năm 1979. Sở dĩ như thế là vì khi lãnh giải Nobel Hoà Bình, Mẹ Têrêxa được cả thế giới – chứ không chỉ riêng người Công giáo – nhìn nhận và chiêm ngưỡng như chứng nhân sống động của tình yêu và lòng thương xót; đồng thời, khi ngỏ lời trong dịp này, Mẹ Têrêxa cũng không chỉ nói với người Công giáo nhưng với cả thế giới, kể cả những nhà lãnh đạo thế giới. Chính vì thế, diễn văn này rất cần được nghe lại và rút ra những bài học lớn cho đời sống làm người nói chung và đời sống đức tin Kitô giáo nói riêng.
Lời cầu xin trở thành khí cụ bình an
Có lẽ trong số những người lãnh giải Nobel Hoà Bình, chỉ có Mẹ Têrêxa Calcutta bắt đầu bài diễn văn của mình bằng một lời cầu nguyện, hơn thế nữa, còn mời mọi người cùng cầu nguyện. Mẹ đã bắt đầu thế này: “Kính thưa quý vị, khi chúng ta quy tụ ở đây để tạ ơn Chúa về giải Nobel Hoà Bình, tôi nghĩ rằng sẽ thật đẹp nếu chúng ta cùng cầu nguyện bằng Kinh Hoà Bình của thánh Phanxicô Assisi. Chúng tôi vẫn đọc Kinh Hoà Bình mỗi ngày sau khi rước lễ. Tôi tự hỏi không biết khi sáng tác lời kinh này cách nay bốn hoặc năm trăm năm, thánh Phanxicô có phải đối diện với những khó khăn như chúng ta đối diện ngày hôm nay không. Nhưng rõ ràng là lời kinh này rất phù hợp với chúng ta. Vì thế, xin mời quý vị cùng đọc Kinh Hoà Bình”.
Bằng cách này, Mẹ Têrêxa đã làm nổi bật tầm quan trọng của việc cầu nguyện trong những hoạt động bác ái và phục vụ của Mẹ. Nhờ cầu nguyện, Mẹ và các nữ tu trong dòng mới có thể “phục vụ Chúa trong mọi người”, khám phá sự hiện diện của Chúa nơi “những người nghèo nhất trong các người nghèo”, những người bị bỏ rơi. Cũng vì thế, rất nhiều lần Mẹ Têrêxa nhấn mạnh Mẹ và các chị em trong dòng không phải là những người làm công tác xã hội nhưng là “những nhà chiêm niệm giữa lòng thế giới, những người chạm đến Thân Mình Đức Kitô 24 giờ một ngày”. Lại chẳng phải là bài học quý giá cho các Kitô hữu khi thực thi những việc của lòng thương xót hay sao? Thiếu cầu nguyện, chúng ta có nguy cơ biến Giáo Hội thành một thứ cơ quan từ thiện, dù hiệu quả đến mấy, chứ không phải là Thân Thể sống động của Chúa Giêsu Kitô. Thiếu cầu nguyện, chúng ta còn có nguy cơ làm việc bác ái vì những tính toán và động lực nào khác chứ không còn là thực thi mệnh lệnh của Thầy chí thánh: “Hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương các con”.
Lời kinh mà Mẹ Têrêxa mời mọi người đọc bắt đầu bằng câu: “Lạy Chúa, xin Chúa dùng con làm khí cụ bình an của Chúa”. Xin ơn bình an thì ai cũng xin: bình an cho bản thân, gia đình, Giáo Hội, xã hội. Nhưng xin Chúa làm cho mình trở thành khí cụ bình an thì xem ra không phổ biến lắm. Vì thế, lời kinh này thay đổi cách nhìn của người môn đệ Chúa khi cầu nguyện. Không chỉ là xin và đón nhận ơn bình an cách thụ động nhưng còn là đón nhận một trách nhiệm, trở thành người xây đắp và kiến tạo bình an trong môi trường mình đang sống.
Hơn thế nữa, đây là “bình an của Chúa” chứ không phải bất cứ thứ bình an nào. Đó là sự bình an của Đấng nói với các môn đệ: “Thầy để lại bình an cho các con. Thầy ban cho các con bình an của Thầy”, rồi Người nói thêm, “Thầy ban cho các con không theo kiểu thế gian” (Ga 14,27). Đó là sự bình an của Đấng Phục sinh hiện đến giữa các môn đệ và nói “Bình an cho các con”, đồng thời cho các ông xem tay và cạnh sườn, bàn tay có dấu đinh và cạnh sườn bị đâm thâu (Ga 20,20). Đó là sự bình an sâu xa và bền vững ngay giữa những thử thách gian nan, như sự tĩnh lặng của đáy đại dương dẫu cho mặt biển dậy sóng.

Thứ Tư, 24 tháng 8, 2016

Huấn từ ĐTC ngày 21.08.16 - Cánh cửa cứu độ tuy hẹp nhưng luôn rộng mở

Cánh cửa cứu độ tuy hẹp nhưng luôn rộng mở

Kinh Truyền Tin ngày 21 tháng 8 năm 2016 (toàn văn)


Kinh Truyền Tin ngày 21/8/2016
Cửa cứu độ là "một cửa ngõ hẹp nhưng luôn rộng mở", Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã khẳng định như vậy trong giờ Kinh Truyền Tin ngày 21/8/2016: "hẹp là để cầm nén tính kiêu ngạo của chúng ta làm cho chúng ta căng phồng" và "rộng mở bởi vì Thiên Chúa đón nhận chúng ta không phân biệt ai".
Từ một cửa sổ của dinh Giáo Hoàng trông xuống quảng trường Thánh Phêrô ở Vatican, Đức Giáo Hoàng đã giải thích cho đám đông rằng cửa ngõ cứu độ nhỏ hẹp "yêu cầu chúng ta hạn chế và cầm nén tính kiêu ngạo của chúng ta và nỗi lo sợ của chúng ta, để mở lòng chúng ta ra [với Thiên Chúa] với một tâm hồn khiêm nhường và tin tưởng, đồng thời nhìn nhận chúng ta là những kẻ tội lỗi, đang cần đến sự tha thứ của Người".
"Khi bước qua cửa ngõ Chúa Giêsu, ngài nói thêm, (…) chúng ta có thể thoát ra khỏi những thái độ trần tục, những thói xấu, những kiêu ngạo và khép kín". Và Đức Giáo Hoàng mời gọi các Kitô hữu hãy xét mình về điều ngăn trở mình bước qua ngưỡng cửa đó: "cái kiêu ngạo của tôi, cái tự mãn của tôi, các tội lỗi của tôi".
Trong suốt bài suy niệm, Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã kêu gọi đừng bỏ lỡ thời cơ bước qua cửa ngõ bằng cách kềm nén bản thân "đừng có những lời lẽ kinh điển về cứu độ", nhưng "hãy chớp lấy những thời cơ cứu độ". "Đời sống không phải là một trò chơi video, cũng không phải là một bộ phim tập trên truyền hình, ngài nhấn mạnh; cuộc đời chúng ta là nghiêm túc và mục đích phải đạt tới là quan trọng: sự cứu độ đời đời".
AK
Lời Đức Giáo Hoàng trước Kinh Truyền Tin
Thân chào quý anh chị em!
Bài Phúc Âm ngày hôm nay khuyên chúng ta hãy suy ngẫm về đề tài cứu độ. Thánh Sử Gia Luca kể rằng Chúa Giêsu trên đường lên Giêrusalem, và trên hành trình của Người, có kẻ đã tiến gần Người và hỏi: "Thưa Ngài, những người được cứu thoát thì ít, phải không?" (Lc 13, 23). Chúa Giêsu không đưa ra một câu trả lời trực tiếp, nhưng chuyển cuộc đối đáp sang một tầng cấp khác, với một ngôn ngữ gợi ý, mà thoạt đầu, các môn đệ có thể không hiểu: "Hãy chiến đấu để qua được cửa hẹp mà vào, vì tôi nói cho anh em biết: có nhiều người sẽ tìm cách vào mà không thể được" (c. 24). Với hình ảnh cánh cửa, Người muốn cho những thính giả của Người hiểu rằng không phải là vấn đề số lượng – có bao nhiêu người sẽ được cứu độ -, không cần biết sẽ có bao nhiêu người, mà quan trọng là tất cả mọi người biết được đâu là con đường sẽ dẫn đến sự cứu độ: khung cửa.
Hành trình đó, con đường đó, dự kiến là người ta phải bước qua một khung cửa. Nhưng khung cửa đó ở đâu? Khung cửa đó như thế nào? Ai là khung cửa đó? Chính Chúa Giêsu là khung cửa. Chính Người đã phán điều này trong Phúc Âm theo thánh Gioan: "Tôi là cửa" (x. Ga 10, 9); Người dẫn dắt chúng ta vào sự hiệp thông với Chúa Cha, nơi chúng ta sẽ tìm thấy tình yêu, sự thông hiểu và chở che. "Nhưng tại sao cửa này lại hẹp ?", người ta có thể tự hỏi. Tại sao Người lại phán cửa hẹp? Đây là một cửa hẹp không phải vì nó áp bức, không, nhưng vì nó yêu cầu chúng ta hạn chế và cầm hãm tính kiêu ngạo và sợ hãi của chúng ta, để mở lòng chúng ta ra với Người với một tâm hồn khiêm nhường và tin tưởng, đồng thời nhìn nhận chúng ta là những kẻ tội lỗi, đang cần đến sự tha thứ của Người. Chính vì thế mà nó hẹp, để cầm hãm tính kiêu ngạo của chúng ta đang làm chúng ta căng phồng. Cửa lòng thương xót của Thiên Chúa tuy hẹp, nhưng luôn luôn rộng mở, và rộng mở cho tất cả mọi người! Thiên Chúa không thiên vị, mà Người luôn đón nhận mọi người, không phân biệt. Một khung cửa hẹp để giới hạn tính kiêu ngạo và nỗi sợ hãi của chúng ta, rộng mở bởi vì Thiên Chúa đón nhận chúng ta không phân biệt ai. Và sự cứu độ Người ban cho chúng ta là một luồng lòng thương xót không ngừng xô đổ mọi rào cản và mở ra những viễn cảnh kỳ dị của ánh sáng và bình an. Một khung cửa hẹp nhưng luôn luôn rộng mở, anh chị em đừng quên điều này: cửa hẹp nhưng luôn luôn rộng mở.